Mẫu thượng ngàn – Nguyễn Xuân Khánh

mẫu thượng ngàn

Tựa sách: Mẫu thượng ngàn

Tác giảNguyễn Xuân Khánh

Nhà xuất bản Phụ nữ năm 2009

.

~oOo~

.

Vốn không phải là người có trí nhớ siêu phàm về lịch sử, tôi tìm đến các tiểu thuyết thể loại này như một cách để hiểu thêm về văn hóa, đặc biệt là văn hóa Việt Nam. Được đồng nghiệp, một người mê sách giới thiệu cuốn này, tôi đã mượn để đọc vì trước đó đã nghe cuốn Hồ Quý Ly  do tác giả viết được ca ngợi khá nhiều. Đọc xong tôi nhận thấy, Mẫu thượng ngàn là một cuốn tiểu thuyết lịch sử không khô khan nhưng khó để lại nhiều cảm xúc sâu sắc.

Tác giả đã chọn thời kỳ Pháp thuộc ở Bắc Bộ trong thế kỷ XIX. Ông đã miêu tả khá kỹ những cuộc đổ bộ của Pháp, sự chống đối của nghĩa quân, bên cạnh đó là cuộc sống của người dân làng Cổ Đinh hay Kẻ Đinh. Từng nhân vật hiện lên như một bức tranh rất sống động, đặc biệt là phái nữ trong tác phẩm. Trong tình cảnh chèn ép của người Pháp và giới quan chức làng, những người nông dân hướng về Mẫu như một tình cảm hết sức tự nhiên, chân thành. Mẫu thượng ngàn còn miêu tả khá kỹ về sự phát triển của đạo Thiên Chúa trong thời kỳ triều đình nhà Nguyễn cấm đoán tàn nhẫn, sự lụi tàn của đạo Phật thể hiện qua ngôi chùa đổ chẳng ai đoái thương. Cuốn tiểu thuyết là một tư liệu đáng quý mở đầu cho những ai muốn tìm hiểu về đạo Mẫu, đặc biệt là văn hóa lên đồng của người Việt.

Ở nước ta, đạo Mẫu thờ tứ phủ, tức là bốn Mẹ: Mẹ Trời, Mẹ Đất, Mẹ Nước, và mẹ Người. Mẹ Trời là Mẫu Thượng Thiên, Mẹ Người là Mẫu Liễu. Mẹ Nước là Mẫu Thoải. Mẹ Đất rừng là Mẫu Thượng Ngàn.

Đền thờ Mẫu nhiều lắm, ở khắp mọi nơi. Đạo Mẫu là đạo dân gian. Trừ  một vài đền lớn, còn phần đông các đền thờ đều nhỏ, vì không được vui chúa khuyến khích, đỡ đầu, còn dân lại quá nghèo. Thường thường dân tìm một nơi phong cảnh hữu tình, kỳ thú, rồi lập đền. Có sông có núi, có cỏ cây hoa lá, lại thêm cái hồn của con người thành kính tỏa vào đó, các ngôi đền trở thành nơi dung chứa những khát vọng và nỗi niềm của mọi người dân quê nghèo khổ, những nơi ấy tất trở thành chốn linh địa.

Tuyến nhân vật của tiểu thuyết khá rộng. Đó là những thành viên hai dòng họ Đinh và Vũ Xuân ở làng, đó là ba anh em ông chủ đồn điền Messmer “Mắt mèo” người Pháp, đó là những người phụ nữ chất phác, hiền lành. Tất cả dần dần xuất hiện và những mảnh đời của họ ghép lại thành bức tranh nông thôn Bắc Bộ thời đó. Tuy không phân tích kỹ tâm lý của họ, nhưng các bà, các cô đều hiện lên với những nét rất riêng, như làm nổi bật hơn hình tượng Mẫu. Từng số phận của họ đều gắn bó với Mẫu theo những cách khác nhau. Bà tổ cô, với số phận long đong về chồng con, cải đạo hai lần rồi trở thành người trông coi đền Mẫu. Bà Mùi mang tiếng sát chồng cũng lên nương tựa đền. Bà ba Váy, bà thím Pháo đều là những người mẹ hết lòng vì con. Cô trinh nữ Nhụ hát chầu rất hay với giọng trong vắt, cuối cùng cũng về với Mẫu sau những biến cố của cuộc đời. Trong số các nhân vật nữ, chỉ có cô Hoa, con gái ông hộ Hiếu và thím Pháo là người đã quyết tâm ra đi để thực hiện những gì cô mơ ước dù tất cả vẫn còn tối tăm.  Người phụ nữ hiện lên rất đẹp, sâu sắc, nồng nàn, say đắm, bên cạnh những toan tính sâu xa hay những mơ ước của phái mạnh đều gói gọn trong cuốn tiểu thuyết dày hơn tám trăm trang này.

Tác phẩm cũng đề cập đến những người Pháp đến với Việt Nam vì mục đích văn hóa hay nghệ thuật. Hình tượng  Pierre là một trong những nhân vật ấy. Tôi thích đoạn hai họa sĩ, một người ta, một người tây bàn luận về hội họa và gợi mở thêm những điều hay mà chính bản thân mình cũng không biết:

Một bận, Tuấn gặp Pierre Messmer cũng mang giá đi vẽ. Hai họa sĩ một tây, một ta, nhưng chỉ mới gặp đã thân thiết với nhau ngay. Pierre không nói mà chỉ cười mỉm với Tuấn. Còn Tuấn cũng vậy. Đó là hai con người hồn nhiên. Hồn nhiên có tiếng nói riêng của nó. Những kẻ hồn nhiên, chỉ mới gặp đã có thể nhận ra nhau ngay không cần nói.

– Sao anh không nghiên cứu vẽ lụa? Ở Hà Nội người ta đang nghiên cứu sơn mài. Những kiểu vẽ ấy, phương Tây chúng tôi không có.
– Tôi thích sơn dầu.
– Chúng tôi đã có truyền thống mấy trăm năm về sơn dầu. Người họa sĩ An Nam vẽ sơn dầu, chưa hề có truyền thống, chắc chắn sẽ khó khăn.
– Khó khăn tôi cũng làm. Chưa có truyền thống thì tạo ra truyền thống. Tôi nghĩ mình có thể đưa tâm hồn của xứ sở mình vào sơn dầu và có thể tạo ra cách đi riêng của mình.
– Anh có thể nói rõ hơn ý kiến của anh xem sao.
– Tôi nghĩ người Đông phương chúng tôi thường ưa màu nâu, đen, đỏ sậm, vàng… tức là thiên về tính âm. Nhà cửa chúng tôi cũng vậy: chùa và đình thì thấp, gần như sát mặt đất, và nhìn vào chỉ thấy cái mái ngói to rộng cũng lại màu nâu. Tâm hồn chúng tôi nghiêng về sự trầm tư, chậm chạp. Còn sơn dầu của người Tây phương các anh thì sao. Nó trực tiếp, nó năng động, thiên về ánh sáng và tốc độ. Nó mang tính dương. Âm quá và dương quá đều bất cập. Tôi ước ao một sự điều hòa…
Pierre gật gù. Ông nhớ tới nhà dân tộc học René de Fromentin. Ông không ngờ ở chốn heo hút này lại được gặp một người bản xứ trẻ tuổi mà lại suy nghĩ thâm trầm. Và Pierre chợt hiểu một điều từ lâu ông vẫn suy nghĩ. Đó là, ông rất yêu cây cỏ hoa lá ở xứ này, yêu cả cái ánh sáng chói chang của nó nữa; tuy nhiên ông vẫn luôn luôn cảm thấy mình còn thiếu một cái gì đó khi thâm nhập vào cuộc sống bản xứ. Ông đi vào nó nhưng luôn luôn cảm thấy có một bức tường vô hình chắn lại và đẩy bật ra. Hôm nay, ông hiểu. Thì ra ông vẫn luôn luôn là một người khách, một người xa lạ ở xứ sở này. Pierre đưa ra một nhận xét:
– Cái mặc cảm “chú khách” của các ông ghê gớm thật.
– Biết làm sao được. Nhân dân chúng tôi vẫn gọi người Tầu đến nước tôi là “chú khách”. Phải giữ khoảng cách với họ như thế, vì họ là khách đến rồi lại đi, chúng tôi yếu nên chúng tôi phải thế.
– Còn chúng tôi thì sao? Chúng tôi có là khách không? Người Pháp khác thì chẳng biết sao, chứ riêng tôi, tôi không muốn là khách của các bạn.
Tuấn im lặng không trả lời, và cũng không muốn trả lời. Pierre lại đưa ra một nhận xét thứ hai:
– Tôi hiểu cái mặc cảm ấy của người nước bạn. Có thể các bạn vĩ đại vì mặc cảm ấy. Nhưng nó cũng sẽ gây cho các bạn sau này không ít khó khăn.
Tuấn vẫn im lặng không nói.

.

Nếu gọi là nhược điểm thì cuốn tiểu thuyết này chỉ có thể nói là quá rộng và không có nhân vật chính. Vì thế tôi rất khó nắm bắt từng sự kiện cũng như nhớ hết được toàn bộ tóm tắt nội dung như các cuốn sách khác.  Tôi lại muốn đọc thêm một lần nữa, để hiểu biết thêm, để nhớ được những sự kiện mà tôi cảm thấy yêu thích, nhất là khi những sự kiện lịch sử đó liên quan đến Hà Nội. Nhà văn Nguyên Ngọc cũng từng nhận xét về tác phẩm như sau:

Bằng cuốn tiểu thuyết này, bằng khám phá này – tôi muốn nói vậy – Nguyễn Xuân Khánh một lần nữa khiến ta kinh ngạc vì bút lực còn dồi dào đến tràn trề và say đắm của anh. Tác giả đã ngót 75 tuổi. Gừng già thật cay

Gấp sách, tôi vẫn nhớ màu xanh mướt của cánh đồng, của ngọn núi, và những con đường làng quanh co mà giờ đây gần như rất khó để tìm lại…

Vankey

    • chiemphong
    • April 29th, 2011

    Cuốn này chưa đọc. Lý do chưa đọc thì là do bố đọc cả Hồ Quý Ly lẫn Mẫu thượng ngàn xong thì bảo MTN đọc đuối so với HQL. Thành ra lười đọc đến tận bây giờ. :D

    • Vankey
    • May 2nd, 2011

    Đúng là cuốn Hồ Quý Ly hay hơn thật. Mẫu thượng ngàn không có nhân vật chính, sự kiện rải rác nên hơi lan man, tâm lý nhân vật cũng không thể phân tích kỹ lưỡng được.

  1. Cuốn sách này cho tới trang cuối vẫn chưa nói hết được mấy trọng điểm cần nhấn mạnh như sau này Điều có về với Nhụ nữa không hay hôm bọn đồn điền lên đền Mẫu Thượng Ngàn thì Nhụ có nói cho họ biết đấy là máu mủ của dòng họ nó k

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: