Bốn Mùa, Trời Và Đất – Márai Sandor

 

bonmua_troivadat

Tác phẩm: “Bốn Mùa, Trời Và Đất.”
Tác giả: Márai Sandor
Dịch giả: Giáp Văn Chung.
NXB Văn học và Nhã Nam, năm 2012.

~oOo~

Tôi sống giữa trời và đất, trong tôi có một điều gì đó bất tử và thần thánh, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn đưa tay ngoáy mũi nếu có một mình trong phòng, tâm hồn tôi đủ chỗ chứa tất cả sự thông thái của Ấn Độ, nhưng có lần tôi đã choảng nhau với một gã say rượu trong quán cà phê,…

Thật khó để đánh giá về quyển tản văn “Bốn Mùa, Trời Và Đất” của Márai Sandor theo cách thông thường. Vì về cơ bản, nó không có cốt truyện; về nội dung, nó là dòng thác lũ của chiêm nghiệm và suy tư và hoài niệm và liên tưởng và bình phẩm. Nó mô tả cuộc sống đời thường cũng như đời sống nghệ thuật, nó là nhật kí dông dài đồng thời là những mẩu tin hàm súc, là nỗi trăn trở riêng tư song cũng là sự thật chung hiện hữu, bên trong nó đầy rẫy những ẩn ý mơ hồ nhưng toàn văn thì khúc chiết đến lạ lùng.

Để hiểu được quyển sách này, tôi buộc phải tưởng tượng ra Márai Sandor trong hình dáng một con mèo nhà quý tộc, một con mèo chán đời nhưng luôn ý thức rõ phẩm cách hơn người của mình. Một ngày của chú mèo đặc biệt ấy diễn ra thế này, sáng sớm chú ta phơi nắng và nhìn ngắm thiên nhiên, mắt chú long lanh sáng, tâm hồn chú tràn đầy giao cảm với đất trời. Đến lúc cảm thấy tự do đang thúc giục, chú mèo bắt đầu nhảy khỏi bệ cửa sổ dinh thự và lang thang đâu đó để nhìn ngắm cuộc đời. Thong dong dạo bước trên mái ngói, chú ta nhìn những cặp tình nhân trẻ tuổi ngồi ăn cùng bàn đang tranh thủ động chạm, liếc mắt đưa tình. Chú đánh hơi ra mùi của dục vọng, mùi khai ngấy còn tồn đọng từ những việc đêm qua xảy ra giữa họ, rồi chun mũi và bình thản bước đi. Chú chạy ngang những người phụ nữ đang dạo chơi trên phố, chú viếng đám tang cũng như hôn lễ, chú dạo qua cửa sổ phòng làm việc của các nhà văn, ngồi đó và nhìn ngắm Goethe đang viết những dòng cuối của “Faust”, ngó nghiêng Tolstoy hoàn tất “Chiến Tranh và Hòa Bình”, rồi “Đi Tìm Thời Gian Đã Mất” với Proust, bình phẩm Gide, Maugham, Poe, Renard, Rimbaud… cùng rất nhiều những cây bút lớn của thế giới và của Hungari bằng ngôn ngữ đặc biệt của chú. Rồi chú mèo lượn vài vòng quanh các căn nhà thổ, chui vào nhà tắm công cộng, leo lên núi, xuống đồng bằng, đi từ nơi nhớp nháp nghèo túng đến chốn cao sang phù phiếm, từ chỗ thấp thoáng chiến tranh đến nơi yên bình phủ bóng. Chú ta đi nhiều, thấy nhiều, chiêm nghiệm nhiều và ôm tất cả những thứ đó về lại căn nhà sau một ngày chu du mệt nhọc. Và chú sẽ nằm đó bên bát sữa ấm, ung dung liếm láp những suy tư đầy thương tổn, đợi cô chủ của chú, cô chủ mang tên Văn học, nàng thơ của chú đến yêu cầu chú kể lại những gì chú đã thấy vào ngày hôm nay. Thế là chú tỉ tê với cô chủ.

Những lời tỉ tê ấy vô cùng đáng giá, vì Márai Sandor có biệt tài trao cho những suy tư của mình một hình dung bằng ngôn từ vừa chân thực vừa trữ tình, vừa súc tích vừa biến ảo, dàn đều những gì tầm thường đến những gì cao cả nhất trong sự não nề thơ mộng.

Đọc văn Márai dễ dàng nhận ra ông là một kẻ thông thái. Ông thích nói nửa chừng, nói lấp lửng, ấy vậy còn nói bóng nói gió. Ông nhìn ngắm bầu trời và thấu cạn những gì chứa đựng bên trong nó, nhưng lại thích tả cho ta hình ảnh của nó phản chiếu dưới mặt hồ. Và hơn hết, ông là một bậc thầy vẽ tranh bằng ngôn từ; đôi lúc là một bức tranh phong cảnh bằng màu nước vô cùng trong sáng, đôi lúc là một bức tranh sơn dầu u tối và trầm mặc về ý nghĩa cuộc đời, của kiếp phù sinh. Đặc biệt hơn cả, ông có khả năng vẽ những bức tranh thủy mặc, cô đọng lại trong khuôn giấy trắng ý tưởng cơ bản nhất của những điều phức tạp không thể hình dung nổi bằng trực quan. Ví như trong đoản văn “Thành phố”, một trong những đoản văn tôi thích nhất, ông đã dùng hình ảnh tiếng chuông vang lên giữa một thành phố hoang tàn sau khi bị ném bom để liên hệ – một cách sâu sắc và tài tình – với việc nhận ra giá trị và giữ vững niềm tin trong cuộc sống:

…Người gác chuông chỉ làm phận sự của mình. Đôi khi việc đó chẳng có ý nghĩa gì. Đó không phải là một biểu tượng; những biểu tượng chẳng có ý nghĩa gì khi một thành phố bị hủy diệt. Nhưng tiếng chuông bay trên thành phố đổ nát, những người bị thương và những người đang hấp hối bỗng lắng nghe tiếng chuông, và đột nhiên họ hiểu rằng tất cả những thứ khác chỉ là kệch cỡm và phù du, ý nghĩa duy nhất của thành phố là tiếng chuông này, nó không mất đi, cả khi sỏi đá đã vụn vỡ. Tất nhiên người gác chuông không nghĩ đến điều đó. Anh ta chỉ nghĩ đầu tháng có được lĩnh lương? Anh rung chuông như thế, kiên gan và lo lắng. Nhưng thành phố vẫn sống cả trong đống đổ nát, vì tiếng chuông đang vang lên không gian từ tro tàn. Phải hiểu ra điều này. Hãy rung lên những tiếng chuông.

Đọc “Bốn Mùa, Trời Và Đất”, ta không chỉ nhìn ra những suy tư sầu muộn thường gặp của con người hiểu biết, mà còn hiểu những trăn trở hết sức đặc biệt của một nhà văn về việc tìm kiếm, đóng góp chân giá trị của mình cho cuộc sống và cho nghệ thuật. Dù cho những suy niệm của Márai Sandor hết sức riêng tư, dường như được viết ra chỉ để tâm sự với chính ông, nhưng thực chất lại dành cho tất cả mọi người, vì ông không thích nhật kí và ông nghi ngờ ý nghĩa việc viết nhật kí của những nhà văn:

Nhà văn bao giờ cũng liếc mắt để ý xung quanh, ngay cả khi anh ta ghi chép vào cuốn sổ riêng tư: “Hôm nay không xảy ra chuyện gì cả.”

Fata Nguyễn

Advertisements
  1. Reblogged this on Fata Nguyễn Blog.

    • QuỳnhTrâm
    • October 1st, 2016

    Ad nên sửa lại là NXB Văn học chứ ạ?

    • Mình đã sửa, cảm ơn bạn đã góp ý nha

        • QuỳnhTrâm
        • October 1st, 2016

        Ko có gì ạ,cảm ơn về bài review ^^

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: